12:38 ICT Thứ hai, 18/10/2021
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG TIN ĐIỆN TỬ HỘI NÔNG DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Quảng cáo

Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh
Sàn giao dịch điện tử tỉnh Hà Tĩnh
Văn bản Pháp luật
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Cổng Thông tin Điện tử Hà Tĩnh
Công báo Hà Tĩnh
Báo Hà Tĩnh
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh
Nông thôn mới
Sở Thông tin và Truyền thông Hà Tĩnh

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 48

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 47


Hôm nayHôm nay : 5911

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 257239

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 12928868

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Bài viết nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911-25/8/2021) “Vấn đề dân cày” - hơn 84 năm vẫn còn nguyên giá trị

Thứ tư - 25/08/2021 08:38
Tác phẩm “Vấn đề dân cày”( ) được xuất bản thành hai quyển trong năm 1937 - 1938, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (bút danh là Vân Đình) và đồng chí Trường Chinh (bút danh là Qua Ninh). Đây là sách, báo của Đảng, được xuất bản trong thời kỳ Mặt trận dân chủ do Đảng Cộng sản Đông dương tổ chức và lãnh đạo được thành lập. Cuốn sách đã bóc trần những thối nát của xã hội cũ, đồng thời làm cho bạn đọc thấy được vai trò quan trọng của nông dân trong cách mạng Việt Nam. Tuy ra đời cách đây hơn 84 năm, nhưng đến nay nhiều nội dung mà các tác giả đề cập vẫn còn nguyên giá trị.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ảnh tư liệu)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ảnh tư liệu)

Trước hết, chúng ta thấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trường Chinh đã vận dụng lý luận của nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương lúc đó và thực tiễn đời sống nông thôn Việt Nam dưới ách áp bức thực dân và phong kiến, từ đó đề cập đến dân cày một cách toàn diện: ruộng đất, địa tô, sưu thuế, cho vay nợ lãi, giáo dục, v.v...     
 
Bằng việc đưa ra những dẫn chứng cụ thể: “Cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) và cuộc cách mạng vô sản Nga (1917) thành công một cách vẻ vang, một phần là nhờ ở thái độ cách mạng của dân cày”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trường Chinh đánh giá rất cao vai trò to lớn của dân cày: “Dân cày là một lực lượng hậu bị khá mạnh của cách mạng, cho nên phàm một cuộc cải tạo xã hội một cách lớn lao phải có dân cày tham gia mới có kết quả”. “Khi nào họ được giác ngộ, có tổ chức và có lãnh đạo thì họ có một sức mạnh quật cường, to lớn. Lúc đó họ sẵn sàng san phẳng những trở lực trên bước đường tiến thủ của họ và của dân tộc. Song tất cả vấn đề là ở chỗ: giác ngộ, tổ chức và lãnh đạo được dân cày”. Với cách nhìn khoa học, các tác giả khẳng định: “Vấn đề ruộng đất và vấn đề dân cày: vấn đề trụ cột của Đông dương”, “Mấu chốt của vấn đề Đông dương là làm sao cho dân cày có đất cày cấy”([1]). Chúng ta thấy, quan điểm của các tác giả đúng như Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt (tháng 2 năm 1930) và Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10 năm 1930) là chia ruộng đất cho dân cày. Để thực hiện “dân cày có đất cày cấy”, ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Đảng, Chính phủ đã tịch thu ruộng công, chia cho những gia đình không có đất cày cấy. Tháng 11/1953, Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã nhất trí thông qua Cương lĩnh Ruộng đất và quyết định cải cách ruộng đất. Ngày 19/12/1953, Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh số 197/SL, ban bố “Luật cải cách ruộng đất”. Điều 1 của Luật đã ghi rõ mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là: “Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ; Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân”.
Từ năm 1937, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trường Chinh đã khẳng định: “Muốn cho dân đỡ khổ phải làm cho nền kinh tế nông nghiệp được dồi dào”. Thực tế cho thấy, sau khi giành được chính quyền và tuyên bố độc lập (02/9/1945), Đảng, Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển, như: khai hoang, phục hóa, tăng cường thủy lợi, vận động nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể (hợp tác xã hóa)... Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 8/1979) đã xác định: “Chính phủ cần ban hành các chính sách khuyến khích mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp... Khuyến khích các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và cả gia đình xã viên, nông dân cá thể tận dụng diện tích ruộng đất, hồ, ao còn bỏ hoang hoặc bỏ hoá...”. Có thể nói, Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới sản xuất nông nghiệp. Tiếp đến, Hội nghị lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 12/1980) đã quyết định: “Mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp”. Để thực hiện chủ trương đó, ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW, về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm người lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp”. Chỉ thị số 100-CT/TW chỉ nói tới khoán sản phẩm tới nhóm và người lao động chứ chưa nhắc tới khoán hộ; gia đình mới chỉ được làm ba khâu là  cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn tập thể đảm nhiệm năm khâu trong quá trình sản xuất cây lúa. Vì vậy, sau gần 8 năm thực hiện, nông nghiệp nước ta vẫn không “dồi dào” lên được, thậm chí thiếu lương thực, phải nhập từ nước ngoài. Thấy rõ những hạn chế của Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”. Nghị quyết yêu cầu: “Thực sự giải phóng sức sản xuất”, “Trong trồng trọt, về cơ bản khoán đến hộ hoặc nhóm hộ xã viên..., bảo đảm cho người nhận khoán canh tác trên diện tích có quy mô thích hợp và ổn định trong khoảng 15 năm..., bảo đảm cho các hộ xã viên nhận khoán thu được khoảng trên dưới 40% sản lượng khoán trở lên...”. Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự tạo “cú hích” mạnh mẽ cho sản xuất nông nghiệp, “từ một nước thiếu lương thực triền miên, đến năm 1989 (chỉ sau 1 năm thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW) sản lượng lúa gạo của cả nước đã đạt 21,5 triệu tấn và lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được 1,2 triệu tấn lúa gạo”([2]); những năm gần đây, không chỉ lúa gạo, mà nhiều nông sản xuất khẩu của nước ta đứng đầu thế giới.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế nông nghiệp chưa đủ, mới chỉ giải quyết được vấn đề “dân đỡ khổ”. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/9/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, lần đầu tiên vấn đề “tam nông” mới được giải quyết một cách đồng bộ. Quan điểm của Nghị quyết số 26-NQ/TW nêu rõ: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng...”. Nghị quyết số 26-NQ/TW đã nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới.
   Thực tế những gì đã diễn ra trong cuộc Cách mạng Tháng Tám và các  cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc, cũng như quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế trong 35 năm qua, đã chứng minh cho những luận điểm mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trường Chinh đã nêu:“Khi nào họ được giác ngộ, có tổ chức và có lãnh đạo thì họ có một sức mạnh quật cường, to lớn. Lúc đó họ sẵn sàng san phẳng những trở lực trên bước đường tiến thủ của họ và của dân tộc”. “Vấn đề dân cày” tuy đã ra đời cách đây hơn 84 năm, nhưng chúng ta thấy cách nhìn nhận, đánh giá về vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn nguyên vẹn giá trị trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.
 

[1] Trang 16
[2] Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, thứ hai, 08/06/2020  

Tác giả bài viết: Thạc sỹ Dương Trí Thức

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn