07:27 EDT Thứ hai, 18/06/2018
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG TIN ĐIỆN TỬ HỘI NÔNG DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Các Chuyên mục chính

Quảng cáo

Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh
Sàn giao dịch điện tử tỉnh Hà Tĩnh
Văn bản Pháp luật
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Cổng Thông tin Điện tử Hà Tĩnh
Công báo Hà Tĩnh
Báo Hà Tĩnh
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tĩnh
Nông thôn mới
Sở Thông tin và Truyền thông Hà Tĩnh

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 5


Hôm nayHôm nay : 2582

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 60193

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3214314

Trang chủ » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất

Chủ nhật - 03/06/2018 20:27
Chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất góp phần đưa nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đi vào cuộc sống
Ảnh: ĐH

Ảnh: ĐH

Những năm qua, mặc dù trong điều kiện ngân sách còn hạn chế, nhưng Hà Tĩnh đã ưu tiên bố trí ngân sách các cấp khá cao để hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Trước những năm 2010, mỗi năm chỉ dành 5-7 tỷ đồng cho chính sách nông nghiệp thì giai đoạn 2011-2016 tổng kinh phí hỗ trợ là 557,085 tỷ đồng, bình quân  hơn 90  tỷ đồng/năm
 Để thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, gắn với xây dựng NTM, HĐND tỉnh đã ban hành một số chính sách khuyến khích thực hiện tại Nghị quyết 90 và sửa đổi bổ sung tại nghị quyết 157, chính sách hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm tại Nghị quyết 91 (theo các khâu của chuỗi sản phẩm, từ giống, khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất, đến bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm). Với dự toán kinh phí thực hiện giai đoạn 2015-2020 theo Nghị quyết 90 là 825 tỷ đồng (trung bình 137,5 tỷ đồng/năm), Nghị quyết 91 là 231 tỷ đồng (trung bình 38,5 tỷ đồng/năm). Nguồn kinh phí thực hiện chính sách từ ngân sách tỉnh, ngân sách huyện và bố trí lồng ghép các nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn kinh phí sự nghiệp, nguồn hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương, kinh phí phát triển kinh tế tập thể, nguồn vốn quốc tế, các nguồn vốn hợp pháp khác.
 Giai đoạn 2011- 2015 được đánh giá là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, được sự quan tâm lãnh đạo quyết liệt nhất của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh. Với những chủ trương sát đúng, ban hành đồng bộ hệ thống các đề án, quy hoạch, cơ chế chính sách và ưu tiên cân đối nguồn lực đã tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần tạo việc làm; bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Giai đoạn 2011-2015 các chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp có thể phân chia thành 2 nhóm: Nhóm các chính sách mang tính đột phá, chính sách đặc thù, thí điểm và Nhóm các chính sách mang tính tổng thể, bao quát các lĩnh vực.
Trước những năm 2010, chính sách nông nghiệp chỉ mang tính thời vụ, cú nhát do vậy Sản xuất chủ yếu theo chiều rộng, nhỏ lẻ, phân tán, các mô hình liên kết sản xuất hàng hóa tập trung không đáng kể, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ dẫn đến tình trạng “được mùa mất giá”. Sản phẩm nông nghiệp đang chủ yếu ở dạng thô, không đồng nhất về chất lượng, một số sản phẩm vốn là thế mạnh của tỉnh trong chăn nuôi (lợn, bò, hươu), thủy sản (tôm), lâm nghiệp chiếm tỷ trọng chưa tương xứng với tiềm năng trong cơ cấu nội ngành. Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ lực ở nông thôn, với quy mô sản xuất nhỏ lẻ và chưa có sự liên kết, hợp tác với nhau; kinh tế tập thể chưa được quan tâm phát triển; kinh tế trang trại phát triển tự phát; chưa có doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, nhất là doanh nghiệp liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Việc ứng dụng thành tựu của khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất còn chậm nhất là ứng dụng các thành tựu về giống, công nghệ sản xuất để tạo khối lượng sản phẩm nông nghiệp hàng hóa lớn, đồng nhất; công nghệ tưới lạc hậu, chủ yếu sử dụng biện pháp tưới tràn,…
 Giai đoạn 2011-2015 vừa có những chính sách mang tính tổng thể, bao quát trên tất cả các lĩnh vực, vừa có những chính sách mang tính đột phá, đặc thù nên đã có tác động lớn, góp phần quan trọng trong phát triển nông nghiệp nông thôn của tỉnh và thể hiện rõ ở nhiều chỉ tiêu đánh giá tổng hợp; đặc biệt là tốc độ tăng trưởng toàn ngành, năm 2010: -3,35%; 2011: 5,43%, năm 2013: 6,64%; năm 2015 đạt 8,25% đạt mức cao nhất từ trước đến nay; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng nhanh, năm 2010 là 8,5 triệu đồng/năm, năm 2014 đạt hơn 18 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo năm 2010: 23,91%, năm 2014 còn 7,42 %, năm 2015 là 10,46  % (tỷ lệ nghèo từ năm 2015 tính theo phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đa chiều).
Chính sách ban hành và triển khai thực hiện được sự đồng thuận cao của các cấp ủy, chính quyền địa phương, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, bước đầu đã khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá, vùng chế biến tập trung, có hiệu quả kinh tế cao; tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tư vào đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp. Phát triển nhanh các hình thức tổ chức sản xuất liên doanh, liên kết, hợp tác xã, tổ hợp sản xuất để hỗ trợ giúp đỡ cùng nhau phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đã có tác dụng nhân rộng và phát triển các mô hình sản xuất, kinh doanh hiệu quả, đưa lại thu nhập đáng kể cho kinh tế hộ gia đình tại các địa phương và nhân rộng trong các xã nông thôn mới. Chính sách ban hành là cơ hội cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Với việc xác định danh mục các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực, ban hành đồng bộ hệ thống các quy hoạch, đề án, chính sách và tập trung chỉ đạo quyết liệt, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng mới, theo hướng “doanh nghiệp hóa sản phẩm, liên kết hóa sản xuất và xã hội hóa đầu tư”, theo chuỗi liên kết “vừa tập trung, vừa phân tán”, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất thông qua doanh nghiệp... tạo sản phẩm có quy mô lớn, đồng nhất, tăng giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất - kinh doanh, góp phần quan trọng đẩy nhanh tốc độ, chất lượng tăng trưởng nông, lâm, thủy sản. Các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá chủ lực của tỉnh được tập trung khuyến khích phát triển mạnh, đặc biệt là các sản phẩm có lợi thế như: lợn, bò, hươu, tôm, rau củ quả, cam, bưởi; gắn với khai thác lợi thế so sánh theo 03 vùng sinh thái miền núi, đồng bằng, ven biển; từng bước thực hiện đồng nhất về giống, công nghệ sản xuất, để tạo sự đồng nhất về sản phẩm, tăng quy mô và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực, xây dựng thương hiệu. Hệ thống cơ chế chính sách được ban hành và đầu tư nguồn lực tương xứng, đặc biệt bố trí kinh phí triển khai kịp thời, đồng bộ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần tạo việc làm, phát triển ổn định và bền vững; bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
 Tuy nhiên, trong quá trình triển khai trong thực tế không tránh khỏi những tồn tại, hạn chế nhất định, cụ thể: Công tác tuyên truyền chính sách ở một số địa phương chưa thực quyết liệt, đồng bộ dẫn đến nhận thức chưa đầy đủ của một số cán bộ và người dân về mục tiêu của chính sách, bên cạnh khuyến khích các sản phẩm phù hợp với sản xuất nông hộ và có ảnh hưởng đến đông đảo hộ nông dân hưởng lợi (như: hươu, lợn quy mô vừa và nhỏ, lúa, lạc, cam, bưởi, chè, cá lồng bè, khai thác hải sản...). Nhà nước đã có chính sách để làm “đòn bẩy”, nhưng một bộ phận người nông dân chưa quan tâm bứt phá trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp chưa chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh đặc biệt là tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm để nhận được hỗ trợ từ chính sách. Đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp nói chung còn gặp nhiều khó khăn, không ổn định; liên kết sản xuất giữa người sản xuất với các doanh nghiệp chưa được chặt chẽ, thiếu bền vững nên một số mô hình không phát triển bền vững. Một số chính sách kết quả còn khiêm tốn như: Chính sách về diêm nghiệp. Lâm nghiệp...  
 Để tiếp tục hỗ trơ sản xuất nông nghiệp theo tinh thần nghị quyết số 26 ngày 05 tháng 8 năm 2008 của BCH Trung ương khóa X về nông nghiệp nông dân, nông thôn tỉnh cần tiếp tục khuyến khích thông qua các chính sách như hỗ trợ bản quyền giống lúa; Hỗ trợ công tác giống cho cây Cam, bưởi Phúc Trạch, nhà lưới đạt quy chuẩn, bình tuyển cây đầu dòng… Hỗ trợ hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho các cây trồng cạn: Cam, bưởi Phúc Trạch; chè, cây thức ăn gia súc, rau củ quả theo trên đất cát ven biển để duy trì những vùng rau đã có trước đây; hỗ trợ sản xuất rau đạt tiêu chuẩn VietGAP. Hỗ trợ tích tụ ruộng đất để hình thành sản xuất quy mô lớn. Hỗ trợ sản xuất cho một số sản phẩm chủ lực như: Hỗ trợ trồng mới, tiêu thụ sản phẩm bưởi Phúc Trạch ở vùng chỉ dẫn địa lý; Hỗ trợ trồng chè liên kết theo chuỗi đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm…

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Nhuần - PCT Hội Nông dân tỉnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 



 

Thông tin cần biết

Thăm dò ý kiến

Theo bạn, Website có hữu ích không?

Rất hữu ích.

Hữu ích.

Không hữu ích.

Cần bổ sung thêm

Ý kiến khác